Tìm kiếm


Quảng cáo

Chi tiết sản phẩm

Xử lý nước thải bệnh viện

Liên hệ: 0988.272.985 - 09.4242.4664

Đặt Hàng

  • Chi tiết sản phẩm
  • Thông số kỹ thuật
Xử lý nước thải bệnh viện 
Nước thải bệnh viện bao gồm 02 nguồn : nước thải y tế và nước thải sinh hoạt. Nước thải y tế phát sinh từ các phòng khám, phòng phẫu thuật, phòng thí nghiệm, xét nghiệm và các khoa trong bệnh viện. Nước thải này chứa nhiều vi khuẩn, mầm bệnh, máu, các hóa chất, dung môi trong dược phẩm…, từ phòng thanh trùng dụng cụ y khoa với nhiệt lượng cao, từ nhà giặt tẩy….

Nước thải sinh hoạt sinh ra từ toilet, bể tự hoại, nước rửa tay, tắm giặt… của cán bộ công nhân viên bệnh viện, khu nội trú, người nuôi bệnh, người thăm bệnh, người đến khám bệnh. Nước thải sinh hoạt cũng phát sinh từ căn tin, bếp ăn tập thể….
Nước thải bệnh viện ngoài các yếu tố ô nhiễm thông thường như chất hữu cơ, dầu mỡ động thực vật, vi khuẩn, còn có những chất bẩn khoáng và hữu cơ đặc thù như các phế phẩm thuốc, các chất khử trùng, các dung môi hóa học, dư lượng thuốc kháng sinh, các đồng vị phóng xạ được sử dụng trong quá trình chẩn đoán và điều trị bệnh.

Việc sử dụng rộng rãi các chất tẩy rửa (chất hoạt động bề mặt) ở xưởng giặt của bệnh viện cũng tạo nguy cơ thực tế làm xấu đi mức độ hoạt động của công trình xử lý. Kết quả nghiên cứu cho thấy hàm lượng chất hoạt động bề mặt trong nước thải làm xấu đi khả năng tạo huyền phù trong bể lắng, và đa số vi khuẩn tụ tập lại trong bọt. Những chất tẩy rửa riêng biệt ảnh hưởng đến quá trình làm sạch sinh học nước thải: chất tẩy rửa anion tăng lượng bùn hoạt tính, chất tẩy rửa cation làm giảm lượng bùn hoạt tính đi.

Điểm đặc thù của nước thải bệnh viện là sự lan truyền rất mạnh các vi khuẩn gây bệnh, đặc biệt nguy hiểm là nước thải từ những bệnh viện chuyên các bệnh truyền nhiễm cũng như khoa lây nhiễm của bệnh viện sôma. Những nguồn nước thải bệnh viện này là một trong những nhân tố cơ bản có khả năng lan truyền vào nước thải những tác nhân truyền nhiễm qua đường tiêu hóa và làm ô nhiễm môi trường. Đặc biệt nguy hiểm khi nước thải bị nhiễm các vi khuẩn gây bệnh có thể dẫn đến dịch bệnh cho người và động vật qua nguồn nước, qua các loại rau được tưới bằng nước thải.

Đối với nước thải mang tính chất đặc trưng của các bệnh viện, nếu chỉ sử dụng quá trình xử lý bằng phương pháp sinh học đơn thuần sẽ khó có thể giải quyết được các nguy cơ gây bệnh cũng như các chất khó phân hủy sinh học như thuốc kháng sinh, chất hoạt động bề mặt. Vì vậy để đảm bảo nước sau xử lý không chỉ đạt các chỉ tiêu thông thường về vi sinh mà còn bảo đảm được các chỉ tiêu về hóa học như các chất hữu cơ khó/không phân hủy sinh học, công nghệ tích hợp sẽ được áp dụng vào quá trình xử lý nước thải bằng phương pháp kết hợp quá trình hóa học có mặt chất xúc tác (chất oxy hóa mạnh) và quá trình sinh học để khử dư lượng thuốc kháng sinh cũng như chất hoạt động bề mặt (tẩy rửa) mà không thể tự phân hủy sinh học.

Quy trình công nghệ hệ thống xử lý:
 
Thuyết minh quy trình xử lý: 

Hố thu gom: có nhiệm vụ: tập trung nước thải, sau đó bơm qua bể điều hòa.

Bể điều hòa: Do tính chất của nước thải sinh hoạt khác so với nước thải y tế và thay đổi phụ thuộc nhiều vào lượng người sử dụng nước, vì vậy cần thiết xây dựng bể điều hòa. Bể điều hòa có nhiệm vụ: điều hòa lưu lượng làm giảm kích thước và tạo chế độ làm việc liên tục ổn định cho các công trình phía sau, tránh hiện tượng hệ thống xử lý nước thải bị quá tải. Đặc biệt bể điều hòa còn có chức năng ổn định thành phần nước thải nhằm hạn chế việc gây sốc tải trọng cho vi sinh vật cũng như giữ cho hiệu quả xử lý nước thải được ổn định sinh học phía sau hoạt động hiệu quả. Nước thải sau khi vào bể điều hòa sẽ được bơm vào ngăn hòa trộn tại đây sẽ được cụm Oxy hóa nâng cao bằng Ozone có mắt chất xúc tác.

Cụm Oxy Hóa Nâng Cao (Perozone): Công nghệ sử dụng khí ozon (O3) kết hợp với chất xúc tác (ví dụ H2O2) để chuyển hóa/ cắt mạch các chất hữu cơ khó phân hủy thành các chất hữu cơ dễ phân hủy, tạo điều kiện cần cho sự hoạt động hiệu quả của bể xử lý sinh học hiếu khí. Bên cạnh đó, ozon còn có khả năng khử lượng COD, độc tố, dự lượng kháng sinh, vi khuẩn, mùi,…. trong nước thải  cho hiệu quả xử lý cao nhờ vào khả năng oxy hóa cực mạnh của nó khi tiếp xúc với chất xúc tác trong nước thải ở điều kiện thích hợp.
Trong công nghệ này, có sự sự có mặt chất xúc tác là (H2O2) – hydrogen peroxyt.
H2O2 + 2O3 ® 2*OH + 3O2
Sự có mặt của H2O2 được xem như là tác dụng khơi mào cho sự phân hủy O3 thông qua ion HO2- (hydroperoxit).
Quá trình trên tạo ra gốc tự do có khả năng oxi hóa cực mạnh, có thể cắt phân tử dài, khó phân hủy thành phân tử ngắn hơn (COD giảm), hoặc triệt để ra CO2, H2O, N2… Nuớc thải sau khi qua ngăn oxi hóa nâng cao bằng OZONE sau đó nước tiếp tục chảy qua bể sinh học hiếu khí.

Thiết bị lọc sinh học biofor – hiếu khí: Đây là công trình thiết kế cho xử lý nước thải bậc hai. Nó cũng có khả năng xử lý được cả nitơ và phospho. Đây là bể lọc hiếu khí có dòng chảy cùng chiều với khí là từ dưới lên. Các vi khuẩn hiện diện trong nước thải tồn tại ở dạng lơ lửng do tác động của bọt khí và dạng dính bám. Từ đó chúng sẽ tiếp nhận ôxy và chuyển hoá chất lơ lửng và hoà tan thành thức ăn. Quá trình này diễn ra nhanh nhất ở giai đoạn đầu và giảm dần về phía cuối bể. Vi sinh hiếu khí phát triển sinh khối trên vật liệu có bề mặt riêng lớn (nhờ O2 sục vào) sẽ tiêu thụ các chất hữu cơ để sinh khối làm giảm tải lượng ô nhiễm trong nước thải xuống mức thấp nhất. Sau khi qua thiết bị này COD, BOD giảm 70-80%. Bể này hoạt động hiệu quả hơn bể Aerotank rất nhiều do có vật liệu đệm cho vi sinh dính bám phát triển. Quá trình hoạt động ổn định không gián đoạn như bể Aerotank. Quá trình này cũng ít sinh bùn hơn Aerotank. Hiệu quả xử lý cũng cao hơn rất nhiều. Nước thải tiếp tục chảy qua bể lắng.

Bể lắng: Nước từ bể sinh học mang theo bùn hoạt tính chảy vào máng tràn của bể lắng ngang, nước thải được phân phối đều trên toàn diện tích mặt cắt ngang trong toàn bể lắng. Nguyên tắc lắng theo chiều ngang với thời gian lưu khoảng 2-3 giờ. Bể lắng được thiết kế sao cho nước chảy trong bể có vận tốc chậm nhất (trong trạng thái tĩnh), khi đó các bông cặn hình thành có tỉ trọng đủ lớn thắng được vận tốc của dòng nước thải đi qua sẽ lắng xuống đáy bể lắng. Nước thải ra khỏi bể lắng có nồng độ COD giảm 70-75%. Phần nước trong trên mặt từ bể lắng ngang chảy bể khử trùng.

Bể khử trùng: Nước thải sau khi xử lý bằng phương pháp sinh học còn chứa khoảng 103 – 106 vi khuẩn trong 1ml, hầu hết các loại vi khuẩn này tồn tại trong nước thải không phải là vii trùng gây bệnh, nhưng không loại trừ một số vi khuẩn có khả năng gây bệnh. Khi cho Clo vào nước, chất tiệt trùng sẽ khuếch tán xuyên qua vỏ tế bào vi sinh vật và gây phản ứng với men bên trong của tế bào, làm phá hoại quá trình trao đổi chất dẫn đến vi sinh vật bị tiêu diệt.
Nước thải sau khi qua hệ thống xử lý đạt tiêu chuẩn xả thải.